Loading...

    Từ khóa: Phạt VPHC  


Phạt VPHC 25/08/2025
Chi phí tư vấn luật, tư vấn thuế không được khấu trừ, không được tính chi phí hợp lý. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Tình huống như sau:

Công ty đang thực hiện giải thể, có doanh thu đầu ra bằng 0 (không sử dụng hóa đơn; có doanh thu tài chính từ lãi tiền gửi ngân hàng trên số tiền góp vốn; được kiểm tra quyết toán tại trụ sở doanh nghiệp). Công ty nộp báo cáo tài chính, báo cáo thuế đồng đủ; có thuê dịch vụ tư vấn pháp lý và tư vấn thuế từ công ty ngoài (đối tác đủ điều kiện giấy phép ngành nghề kinh doanh có điều kiện). Hóa đơn đầu vào từ dịch vụ tư vấn pháp lý, tư vấn thuế không được khấu trừ thuế GTGT, không được đưa vào chi phí được trừ (hóa đơn VAT đẩy đủ và đáp ứng điều kiện thanh toán ngân hàng). Hành vi này đang được xác định là khai sai nhưng không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, mức phạt cho 2 sắc thuế trung bình là 13 triệu đồng (chưa tính tăng nặng do vi phạm nhiều kỳ).

Nguyên nhân bị loại do không đúng quy định về luật thuế; sự khác biệt quy định của thuế và quy định của kế toán.

Góc nhìn khác như sau:

* Thứ nhất, nhìn nhận trên góc độ Luật xử lý vi phạm hành chính

Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính định nghĩa vi phạm hành chính:

“Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”

Về nguyên tắc, để xử phạt Vi phạm hành chính, buộc phải có các Vi phạm hành chính. Điểm d, đ khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 quy định:

“…d) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính…”.

Khoản 2 Điều 5 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn:

“2. Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn khi có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn theo quy định tại Nghị định này.”

Do đó, chủ thể xử phạt cần chứng minh được yếu tố lỗi, yếu tố lỗi ở đây phải là “chi phí tư vấn pháp lý, tư vấn thuế của doanh nghiệp” khi kê khai là sai, cụ thể là chi phí không tương ứng với doanh thu, hoặc không đủ điều kiện khấu trừ, là yếu tố lỗi do Không đáp ứng được quy định tại Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (được sửa đổi tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, trong đó phải là “Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.”); không đáp ứng điều kiện khấu trừ theo Nghị định 181/2025/NĐ-CP; hoặc phải dẫn chiếu được các quy định để chứng minh yếu tố “lỗi” trong vi phạm hành chính để đảm bảo xử lý phù hợp quy định của pháp luật nói chung và quy định pháp luật thuế nói riêng.

* Thứ hai, góc nhìn về kế toán thuế

+ Loại chi phí do không đáp ứng quy định về thuế; cụ thể do doanh thu không phù hợp chi phí đối với dịch vụ tư vấn pháp lý, tư vấn thuế đối với hóa đơn GTGT từ các công ty luật.

Doanh thu phù hợp chi phí thuộc nguyên tắc phù hợp nêu tại khổ số 06 của Chuẩn mực kế toán số 01. Nếu không phù hợp thì đương nhiên sẽ không được tính chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, và không được khấu trừ thuế GTGT do không phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Quy định hiện tại để xác định chi phí được trừ hay không được trừ khi tính thuế TNDN tham chiếu chủ yếu tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC (sửa Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC). Nếu chi phí không phù hợp doanh thu, nghĩa là không đáp ứng điều kiện “Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.”, dẫn đến việc chi phí đó không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Vậy như thế nào là doanh thu phù hợp chi phí và không phù hợp chi phí. Đã có rất nhiều bài viết giải thích về nguyên tắc phù hợp này. Tuy nhiên, để dễ hiểu, có thể lấy ví dụ như thế này: nếu doanh thu dự án phần mềm phát sinh trong quý 1/2025, đã xuất hóa đơn trong quý 1/2025, nhưng lại ghi nhận chi phí nhân viên thực hiện dự án đó trong quý 2/2025, thì đương nhiên chi phí lương này không tương ứng doanh thu; hoặc doanh nghiệp bán sản phẩm là ống thép thành phẩm, nhưng ghi nhận chi phí đầu vào là tôn, đồng, cát sỏi…là những thứ không cấu thành sản phẩm đầu ra, thì đó là chi phí không phù hợp doanh thu. Khi này, có thể loại chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN và loại khấu trừ thuế GTGT là phù hợp.

Tuy nhiên, cho rằng doanh thu bằng 0, nên chi phí dịch vụ tư vấn pháp lý, tư vấn thuế không được tính chi phí được trừ, không được khấu trừ là chưa phù hợp, bởi lẽ:

+ Tại thời điểm mua dịch vụ, không thể biết thời điểm sau đó, doanh nghiệp có kinh doanh hiệu quả hay không, có phát sinh hóa đơn hay không, mà thực tế doanh nghiệp vẫn phải chi phí với kỳ vọng kinh doanh hiệu quả sau này. Đây là các chi phí tuân thủ phục vụ hoạt động của doanh nghiệp.

+ Nếu theo quan điểm như vậy, tại sao không loại toàn bộ chi phí theo các hóa đơn khác của doanh nghiệp.

+ Nguyên tắc phù hợp là nguyên tắc được áp dụng trong kế toán, có tác dụng quan trọng trong việc xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo cho các thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý. Việc áp dụng mơ hồ, định tính khi cho rằng chi phí tư vấn pháp lý, tư vấn thuế của doanh nghiệp không tương ứng doanh thu, dẫn đến không phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh là thiếu thuyết phục.

Ngoài ra, áp dụng nguyên tắc phù hợp còn được quy định tại một số cách hạch toán nghiệp vụ kinh tế, như tại điều 47, điều 89 Thông tư 200/2014/TT-BTC để có thể vận dụng. Nếu định tính, cảm giác loại trừ chi phí, rồi thực hiện xử phạt vi phạm hành chính mặc dù không phải lỗi cố ý sẽ tăng gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.

MitoU